Ma túy được coi là “cái chết trắng” bởi tác hại cũng như hệ lụy của nó dành cho xã hội. Vì vậy, mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tang trữ, sử dụng trái phép ma túy đều là hành vi vi phạm pháp luật. Trường hợp tổ chức chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự như thế nào? Qua bài viết này đội ngũ chuyên viên, Luật sư của văn phòng Luật sư Thủ Đô xin phân tích, bình luận để làm rõ cấu thành tội phạm của tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy cũng như mức hình phạt của tội này dưới góc nhìn của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

– Thứ nhất, về mặt khách quan của tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy

+ Người phạm tội có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Là trường hợp người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc do mình quản lý, biết người khác (không phải là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của mình) là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, tuy không cho họ thuê, mượn địa điểm, nhưng lại để mặc cho họ hai lần dử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc để mặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Người có địa điểm cho người khác mượn hoặc thuê địa điểm mà biết là họ dùng địa điểm đó không phải để họ sử dụng chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy, mà dùng địa điểm đó để đưa chất ma túy trái phép vào cơ thể người khác, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định của Bộ luật Hình sự.

+ Người nghiện ma túy cho người nghiện ma túy khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; đối với người nào có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy quy định của Bộ luật Hình sự.

+ Người nào bán trái phép chất ma túy của ngưòi khác và còn cho họ sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình để họ sử dụng trái phép chất ma túy, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy.

– Thứ hai, mặt chủ quan của tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy:

+ Người thực hiện hành vi chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi trái pháp luật , thấy trước được hậu quả của của hành vi chứa chấp, tiêu thụ và mong muốn cho hậu quả xảy ra.

+ Trường hợp này người có địa điểm cho mượn, cho thuê phải biết rõ người mượn, người thuê là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy)

– Thứ ba, về chủ thể của tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy:

Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội, theo quy định của Luật Hình sự họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó.Chủ thể của tội phạm này phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật Hình sự. Người phạm tội có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.

– Thứ tư, về khách thể của tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy:

Hành vi phạm tội xâm phạm đến các quy định của Nhà nước vể quản lý, sử dụng chất ma túy, ngoài ra còn gián tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác.

Về hình phạt, của tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy tại Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:

– Một là, người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

– Hai là, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Đối với người dưới 16 tuổi;

+ Đối với 02 người trở lên;

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.