Trong cuộc sống không quá khó để bắt gặp những trận cãi vã mà những người trong cuộc thường lớn tiếng xúc phạm nhau hoặc có những hành động không mấy lịch sự như hắt nước bẩn vào người khác mục đích làm tổn thương nghiêm trọng danh dự của người khác. Tuy nhiên, tùy vào từng hành vi và mức độ của hành vi mà người thực hiện có thể bị xử phạt hành chính hoặc nặng hơn là phải chịu trách nhiệm hình sự. Qua bài viết này đội ngũ chuyên viên, Luật sư của văn phòng Luật sư Thủ Đô xin phân tích, bình luận để làm rõ cấu thành tội phạm của tội làm nhục người khác cũng như mức hình phạt của tội này dưới góc nhìn của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

– Thứ nhất, về mặt khách quan của tội làm nhục người khác:

+ Người phạm tội có hành vi bằng lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, lột quần áo giữa đám đông người, thỏa mãn thú vui xác thịt…

+ Người phạm tội có hành vi  dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lột, đấm đá…nhưng tất cả các hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác. Tuy nhiên, nếu hành vi đó cấu thành một tội độc lập thì tùy từng trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục và tội tương ứng với hành vi đã thực hiện.

+ Khi truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này thì mức độ của các hành vi nêu trên phải là xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác, nghĩa là hành vi nêu trên phải gây ra những ảnh hưởng xấu ở mức độ nhất định đến nhân phẩm, danh dự của người bị hại

Ví dụ: Giữa đám đông người, người phạm tội lột hết quần áo của người bị hại.

+ Trường hợp người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 155 này thì bị người phạm tội chỉ bị truy tố khi có yêu cầu khởi tố của bị hại. Trường hợp, trước ngày xét xử mà người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố thì vụ án được đình chỉ.

– Thứ hai, về mặt chủ quan của tội làm nhục người khác:

+ Người thực hiện hành vi làm nhục người khác là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi trái pháp luật , thấy trước được hậu quả của của hành vi làm nhục người khác và mong muốn cho hậu quả xảy ra.

+ Ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn cho người bị hại bị nhục với nhiều động cơ khác nhau, có thể trả thù chính người bị hại hoặc cũng có thể trả thù người thân của người bị hại.

– Thứ ba, về chủ thể của tội làm nhục người khác:

Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội, theo quy định của Luật Hình sự họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó.Chủ thể của tội phạm này phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật Hình sự. Người phạm tội có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.

Ngoài ra, nhóm bạn đó còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 104 của Bộ luật Hình sự nếu tỷ lệ thương tật của bạn em từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

– Thứ tư, về khách thể của tội làm nhục người khác:

Theo quy định của pháp luật thì công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm và tài sản. Mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm và tài sản đều bị xử lý theo pháp luật. Tội làm nhục người khác xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác

Về hình phạt của tội làm nhục người khác tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:

– Một là, người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

– Hai là, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Đối với 02 người trở lên;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Đối với người đang thi hành công vụ;

+ Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

+ Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

– Ba là, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

+ Làm nạn nhân tự sát.

– Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Văn phòng Luật sư Thủ Đô chuyên cung cấp các dịch vụ pháp lý về vấn đề Hôn nhân và gia đình, Doanh nghiệp, Đất đai, Hình sự… Hãy gọi cho Văn phòng Luật sư Thủ Đô theo hotline: 19006197 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc của bạn!