Cố ý truyền HIV cho người khác, được hiểu là hành vi của người tuy không bị lây nhiễm HIV nhưng đã đưa HIV vào cơ thể người khác một cách cố ý.

Tội cố ý truyền HIV cho người khác được quy định tại Điều 149 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi và bổ sung năm 2017:

“1. Người nào cố ý truyền HIV cho người khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 148 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

c) Đối với người dưới 18 tuổi;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

đ) Lợi dụng nghề nghiệp;

e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

b) Đối với 06 người trở lên;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Quy định cụ thể về tội cố ý truyền HIV cho người khác theo Bộ luật hình sự 2015.

Thứ nhất: Mặt khách quan:

– Về hành vi. Có hành vi sử dụng những vật dụng trung gian để truyền HIV vào cơ thể người khác như: sử dụng ống tiêm của người bị nhiễm HIV để tiêm cho người khác, truyền máu của người bị nhiễm HIV cho người khác…

Lưu ý:

Hành vi nêu trên phải không thuộc trường hợp chính bản thân người bị nhiễm HIV và biết rõ mình bị nhiễm mà vẫn truyền HIV từ chính cơ thể mình sang người khác.

Theo chúng tôi trường hợp người bị nhiễm HIV mặc dù biết rõ mình bị nhiễm HIV nhưng không truyền HIV từ chính cơ thể mình mà sử dụng nguồn HIV khác (không phải từ chính cơ thể mình) để truyền cho người khác thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Tội phạm này hoàn thành khi người phạm tội có hành vi cố ý truyền HIV cho người khác. Nói theo cách khác, bị hại đã bị truyền HIV thì hành vi truyền HIV cho họ đã cấu thành tội phạm, không cần biết người bị hại có bị nhiễm HIV hay không. Trường hợp người bị hại không bị nhiễm HIV thì hành vi phạm tội được xác định là hoàn thành về hành vi nhưng chưa đạt về hậu quả. Do vậy, kết quả giám định pháp y để xác định bị hại có bị nhiễm HIV hay không, chỉ có ý nghĩa khi lượng hình chứ không phải là yếu tố định tội như tội lây truyền HIV cho người khác.

– Về hậu quả: Hậu quả của hành vi trên là làm nhiễm HIV cho người khác. Tuy nhiên theo chúng tôi đối với tội náy nếu người phạm tội cố ý truyền HIV cho người khác nhưng hậu quả không xảy ra là ngoài ý muốn của họ vì các lý do như họ lầm tưởng vật trung gian là có HIV nhưng thực tế lại không có nhiễm HIV (chẳng hạn tưởng bịch máu có HIV và đã truyền cho người khác…) thì người có hành vi nêu trên vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Thứ hai: Khách thể:

Hành vi nêu trên xâm phạm đến sức khoẻ của người khác.

Thứ ba: Mặt chủ quan:

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Thứ tư: Chủ thể:

Chủ thể của tội này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Thứ năm: về hình phạt.

Mức hình phạt đối với tội phạm này được chia thành hai khung, cụ thể như sau:

– Khung một (khoản 1)

Có mức phạt tù từ ba năm đến mười năm. Được áp dụng đối với trường hợp có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này nêu ở mặt khách quan và chủ quan.

Có mức phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân, được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây:

+ Có tổ chức được hiểu là trường hợp có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người (đồng phạm) cùng thực hiện tội phạm này.

+ Đối với nhiều người (từ hai người bị hại trở lên)

+ Đối với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi)

+ Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

+ Lợi dụng nghề nghiệp

– Hình phạt bổ sung (khoản 3)

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Văn phòng Luật sư Thủ Đô chuyên tư vấn các vấn đề về Hôn nhân và gia đình, Đất đai, Doanh nghiệp, Hình sự, Dân sự… Hãy gọi cho Văn phòng Luật sư Thủ Đô theo hotline: 1900 6197 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc của bạn!