Tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Theo đó, quy định bị cáo được nói lời sau cùng nhằm mục đích để cho bản thân họ nói lên quan điểm của mình về vụ án, các vấn đề liên quan khác. Điều này còn mang tính nhân đạo sâu sắc của pháp luật, do đó cơ quan và người tiến hành tố tụng phải tôn trọng để họ thực hiện theo đúng quy định. Qua bài viết này đội ngũ chuyên viên Luật sư của văn phòng Luật sư Thủ Đô xin được phân tích, bình luận các quy định của pháp luật về lời nói sau cùng của bị cáo qua các thời kỳ pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng là quy định được ghi nhận lần đầu tiên tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988. Căn cứ theo quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự 1988, có quy định: Sau khi những người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm, chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc tranh luận. Bị cáo được nói lời sau cùng. Không được đặt câu hỏi khi bị cáo nói lời sau cùng. Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm không liên quan đến vụ án, nhưng không được hạn chế thời gian đối với bị cáo. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi.

Thay thế Bộ luật tố tụng hình sự 1988 là sự ra đời và phát triển của Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Tại Bộ luật tố tụng hình sự 2003, quy định này không mất đi mà vẫn được quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Căn cứ theo quy định tại Điều 220 Bộ luật hình sự 2003, có quy định: Sau khi những người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận. Bị cáo được nói lời sau cùng. Không được đặt câu hỏi khi bị cáo nói lời sau cùng. Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm không liên quan đến vụ án, nhưng không được hạn chế thời gian đối với bị cáo. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án, thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi.

Kế thừa sự phát triển của Bộ luật tố tụng hình sự 2003, sự ra đời của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 là sự tiến bộ của quá trình lập pháp. Căn cứ Điều 324 Bộ luật tố tụng hình sự: Sau khi những người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận. Bị cáo được nói lời sau cùng. Không được đặt câu hỏi khi bị cáo nói lời sau cùng. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc hỏi. Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm không liên quan đến vụ án nhưng không được hạn chế thời gian đối với bị cáo.

Trên đây là những phân tích quy định của pháp luật về lời nói sau cùng của bị cáo qua các thời kỳ pháp luật. Lưu ý rằng, tại thời điểm tham khảo có thể văn bản đã hết hiệu lực pháp lý, hãy gọi cho chúng tôi theo số hotline 1900 6197 để được tư vấn nhanh chóng và chính xác. Luật Thủ Đô hy vọng sẽ cung cấp được nhiều thông tin hữu ích để hỗ trợ cho bạn đọc.

Văn phòng Luật sư Thủ Đô chuyên cung cấp các dịch vụ pháp lý về vấn đề Hôn nhân và gia đình, Doanh nghiệp, Đất đai, Hình sự… Hãy gọi cho Văn phòng Luật sư Thủ Đô theo hotline: 1900 6197 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc của bạn!