Trong Luật Hình sự Việt Nam, tử hình là loại hình phạt đặc biệt và nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của người bị kết án và chỉ được áp dụng đối với người phạm tội có tính chất nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội. Hình phạt tử hình được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định. Qua bài viết này đội ngũ chuyên viên Luật sư của văn phòng Luật sư Thủ Đô xin được phân tích, bình luận các quy định của pháp luật về hình phạt tử hình quy định tại Bộ luật hình sự qua các thời kỳ.

  • Thứ nhất, hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1985

Trong Bộ luật Hình sự này, điều kiện, phạm vi, đối tượng áp dụng hình phạt tử hình được quy định rõ tại Điều 27. Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Không áp dụng hình phạt này với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Tử hình được hoãn thi hành đối với phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi. 

Trong phần các tội phạm, Bộ luật Hình sự năm 1985, hình phạt tử hình được quy định trong 29 điều luật, chiếm 14,89% trên tổng số 195 điều luật về tội phạm. Ngày 28/12/1989, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã quy định thêm 4 hành vi phạm tội về ma túy trong Điều 96a, có mức hình phạt cao nhất là tử hình. Ngày 12/8/1991, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã quy định hình phạt tử hình đối với các tội: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 134); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân (Điều 157); Tội nhận hối lộ (Điều 226). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày 22/12/1992 đã quy định hình phạt tử hình đối với Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 97). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày 10/5/1997 đã bổ sung thêm 06 điều luật quy định các tội: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 134a); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân (Điều 185e); Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185m) vào danh mục các tội phải chịu hình phạt cao nhất là tử hình. Đồng thời, nhà làm luật cũng tách Điều 96a ra thành 4 điều luật mới (các điều 185b, 185c, 185d, 185đ) và giữ nguyên hình phạt tử hình đối với các tội này. Điều 112 quy định tội hiếp dâm cũng được tách ra thành hai tội: Tội hiếp dâm và Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112a) và cũng vẫn giữ nguyên hình phạt tử hình đối với các tội này. 

Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 1985, sau bốn lần sửa đổi, bổ sung đã quy định hình phạt tử hình trong 44 điều luật về tội phạm, chiếm tỷ lệ 20,37% trên tổng số 216 điều luật về tội phạm. 

  • Thứ hai, hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Nếu như trong những lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1985, đường lối xử lý nghiêm khắc hơn đã được thể hiện bằng việc tăng cường hình phạt tử hình trong thực tiễn pháp luật, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có sự mềm hóa (phi hình sự hóa), bằng việc quy định thu hẹp và xác định rõ ràng phạm vi và điều kiện áp dụng hình phạt này. Thể hiện cụ thể như sau: 

– Phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999: Theo Điều 35 và Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định về hình phạt tử hình có những nội dung mới như sau:

+ Thứ nhất, hình phạt tử hình được coi là một loại hình phạt đặc biệt chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, trong khi Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định áp dụng hình phạt này đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. 

+ Thứ hai, ngoài hai đối tượng đã được Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định không áp dụng hình phạt tử hình: Người chưa thành niên phạm tội và phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã quy định bổ sung là không áp dụng hình phạt này đối với các đối tượng là phụ nữ đang nuôi con (bao gồm cả con nuôi) dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. 

+ Thứ ba, trong khi Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi chỉ được hoãn thi hành phạt tử hình, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định không thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân. 

+ Thứ tư, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định không áp dụng hình phạt đối với người phạm tội trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Đối với người phạm tội chưa đạt, chỉ có thể áp dụng hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, Bộ luật Hình sự năm 1985 không có quy định này. 

+ Thứ năm, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mới là trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân. 

+ Thứ sáu, Bộ luật Hình sự năm 1999 bỏ quy định “chỉ trong trường hợp đặc biệt có luật quy định riêng hình phạt tử hình được thi hành ngay sau khi tuyên”.

– Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự năm 1999:

+ Theo Bộ luật Hình sự năm 1999, hình phạt tử hình không còn được áp dụng đối với các tội phạm sau: Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 81), Tội chống phá trại giam (Điều 90), Tội trộm cắp tài sản (Điều 138), Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143), Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 154), Tội buôn bán hàng giả không phải là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh (Điều 156 và 158), Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200), Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230), Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 280), Tội bỏ vị trí chiến đấu (Điều 324).   

+ Hình phạt tử hình theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009 được Quốc hội khóa XII số 37/2009/QH12 thông qua ngày 19/6/2009. Theo Luật này, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều quy định về hình phạt tử hình, cụ thể như sau: Bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phạm: Hiếp dâm (Điều 111), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), Tội buôn lậu (Điều 153), Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180), Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197), Tội chiếm đoạt máy bay, tầu thủy (Điều 221), Tội đưa hối lộ (Điều 289), Tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334). Đối với các tội phạm này hình phạt nghiêm khắc nhất được áp dụng là hình phạt tù chung thân. Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1999 bổ sung thêm tội khủng bố (Điều 230a) quy định hình phạt nặng nhất áp dụng với tội này là tử hình. Như vậy, hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi năm 2009) chỉ còn quy định ở 22 điều luật về tội phạm, chiếm tỷ lệ hơn 8% điều luật về tội phạm. 

Trên đây là những phân tích quy định của pháp luật về hình phạt tử hình quy định tại Bộ luật hình sự qua các thời kỳ. Để không bị gián đoạn, mời bạn đọc vui lòng theo dõi các bài viết tiếp theo. Lưu ý rằng, tại thời điểm tham khảo có thể văn bản đã hết hiệu lực pháp lý, hãy gọi cho chúng tôi theo số hotline 1900 6197 để được tư vấn nhanh chóng và chính xác. Luật Thủ Đô hy vọng sẽ cung cấp được nhiều thông tin hữu ích để hỗ trợ cho bạn đọc.

Văn phòng Luật sư Thủ Đô chuyên cung cấp các dịch vụ pháp lý về vấn đề Hôn nhân và gia đình, Doanh nghiệp, Đất đai, Hình sự… Hãy gọi cho Văn phòng Luật sư Thủ Đô theo hotline: 1900 6197 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc của bạn!