Biện pháp bắt buộc chữa bệnh không phải là chế tài hình phạt mà là biện pháp tư pháp không có các yếu tố trừng trị, cải tạo giáo dục và được áp dụng đối với những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần, một bệnh lý khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi hoặc đối với những người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Qua bài viết này đội ngũ chuyên viên Luật sư của văn phòng Luật sư Thủ Đô xin được phân tích, bình luận các quy định của pháp luật về điều kiện áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Quy định của pháp luật về điều kiện áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được quy định như sau:

– Việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được tiến hành khi có những điều kiện đã được Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Theo Điều 21 và Điều 49 Bộ luật Hình sự, thì biện pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng trong các trường hợp sau: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; Người đang chấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

– Như vậy, điều kiện ban đầu để áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh là sự nguy hiểm của người bệnh (một trong ba trường họp nêu trên) cho xã hội, xuất phát từ hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện và trạng thái tâm thần cũng như khả năng do măc bệnh tâm thân hoặc bệnh lý khác có thể thực hiện những hành vi mới nguy hiểm cho xã hội. Để áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, cần phải chứng minh được tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự của những người bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh lý khác đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng không thể tự mình chứng minh được tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự của những người này mà phải căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

+ Do vậy, khi có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Hình sự thì tùy theo giai đoạn tố tụng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Kết luận giám định pháp y tâm thần là cơ sở để Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định hoặc không ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, cần lưu ý rằng, theo quy định của Điều luật chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, tùy theo giai đoạn tố tụng, mới có nghĩa vụ trưng cầu giám định pháp y. Do vậy, trong giai đoạn thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự nếu xét thấy người đang chấp hành hình phạt có biểu hiện mắc bệnh tâm thần hay một bệnh lý khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, phải nhanh chóng báo cáo bằng văn bản với Tòa án để Tòa án trưng cầu giám định pháp y.

Trên đây là những phân tích quy định của pháp luật về . Lưu ý rằng, tại thời điểm tham khảo có thể văn bản đã hết hiệu lực pháp lý, hãy gọi cho chúng tôi theo số hotline 1900 6197 để được tư vấn nhanh chóng và chính xác. Luật Thủ Đô hy vọng sẽ cung cấp được nhiều thông tin hữu ích để hỗ trợ cho bạn đọc.

Văn phòng Luật sư Thủ Đô chuyên cung cấp các dịch vụ pháp lý về vấn đề Hôn nhân và gia đình, Doanh nghiệp, Đất đai, Hình sự… Hãy gọi cho Văn phòng Luật sư Thủ Đô theo hotline: 1900 6197 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc của bạn!